Việc làm và Bệnh tật
Nghỉ ốm có lương
Luật Bảo hiểm xã hội đưa ra các quy định về việc nghỉ ốm đau bệnh tật có hưởng lương. Thời gian nghỉ bệnh khác nhau dựa trên loại hình công việc mà người lao động thực hiện. Người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường thì thời gian hưởng chế độ ốm đau là 30 ngày làm việc (đối với những người có ít hơn 15 năm đóng Bảo hiểm), 40 ngày (đối với những người có 15- 30 năm đóng bảo hiểm) và 60 ngày (đối với những người có từ 30 năm đóng bảo hiểm trở lên). Đối với người làm động làm việc trong các ngành nghề/công việc nặng nhọc, độc hại, thời gian hưởng chế độ ốm đau tăng lên 10 ngày cho mỗi mức đóng bảo hiểm. Nếu người lao động mắc một căn bệnh cần phải điều trị kéo dài, thời gian hưởng chế độ ốm đau tối đa là 180 ngày trong một năm. Nếu người lao động nghỉ việc do mắc bệnh quá 180 ngày, họ nhận được một khoản trợ cấp thấp hơn tùy thuộc vào năm đóng bảo hiểm xã hội (50-65%). Trợ cấp ốm đau tối đa là 75% tiền lương của người lao động đóng Bảo hiểm xã hội. Người lao động đóng bảo hiểm xã hội và nghỉ việc (sau khi có văn bản xác nhận của bác sĩ) phải được chi trả bởi cơ quan Bảo hiểm xã hội. Ngoài ra họ còn được nghỉ dưỡng sức trong thời gian 5-10 ngày và trợ cấp ốm đau trong thời gian này là 30% mức tiền lương cơ bản. Trợ cấp ốm đau hàng ngày được tính bằng cách chia chế độ ốm đau hàng tháng cho 24 ngày.
Một cải cách lớn đã diễn ra trong hệ thống an sinh xã hội thông qua việc ban hành Luật Bảo hiểm xã hội (Luật số 41/2024/QH15), có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025. Luật trước đó ban hành năm 2014 đã bị bãi bỏ.
Luật mới quy định rõ rằng nếu người lao động bị ốm và chỉ nghỉ một phần ngày làm việc, thời gian này vẫn được tính và chi trả tương ứng theo chế độ nghỉ ốm.
Chế độ nghỉ ốm hiện nay được ghi nhận và chi trả theo tỷ lệ, với thời gian được làm tròn đến nửa ngày gần nhất. Thời gian nghỉ ốm tối đa đối với trường hợp mắc bệnh dài ngày được chuẩn hóa theo từng năm, đồng thời cho phép người lao động được nghỉ dưỡng sức tối đa 10 ngày nếu sau 30 ngày nghỉ ốm trong năm mà sức khỏe vẫn chưa hồi phục.
Nguồn: Các điều 25-29, 45 & 46 Luật Bảo hiểm xã hội (Luật số 41/2024/QH15); Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH.
Chăm sóc Y tế
Người lao động bị tai nạn lao động phải được cấp cứu y tế kịp thời và điều trị chu đáo. Người sử dụng lao động có trách nhiệm thanh toán đầy đủ của tất cả các chi phí y tế cho người lao động không tham gia bảo hiểm y tế. Luật Bảo hiểm y tế quy định các mức chi trả của bảo hiểm y tế. Có sự khác biệt giữa các mức chi trả khác nhau với từng cá nhân khác nhau. Một số cá nhân được bảo hiểm chi trả 100% các chi phí chăm sóc y tế trong khi những người khác, chỉ được bảo hiểm chi trả 80% các chi phí này.
Bảo hiểm y tế chi trả cho các dịch vụ chăm sóc y tế như khám chữa bệnh từ xa, thuốc men tại gia đình, chăm sóc tại nhà, phục hồi chức năng, khám thai, sinh nở, cũng như thuốc, thiết bị, máu, khí y tế, vật tư, dụng cụ, công cụ và hóa chất y tế.
Mức chi trả toàn phần (100%) áp dụng cho các nhóm ưu tiên, điều trị, chăm sóc ban đầu, người tham gia bảo hiểm lâu dài phải đồng chi trả cao, cấp cứu, bệnh hiếm, phẫu thuật, người yếu thế và cư dân vùng đảo. Mức chi trả 95% áp dụng cho các hộ cận nghèo. Mức chi trả một phần (50–100%) áp dụng cho dịch vụ khám ngoại trú tại các cơ sở tuyến trên, tùy theo phân loại; lộ trình thực hiện quy định (50% cho ngoại trú, 100% cho nội trú tại bệnh viện tuyến trung ương). Về cơ bản, các nhóm dễ bị tổn thương và dịch vụ thiết yếu được chi trả toàn bộ; các dịch vụ khám ngoại trú tại tuyến trên có thể được chi trả một phần.
Nguồn: Điều 21-22 Luật Bảo hiểm y tế (số 25/2008/QH12), sửa đổi bởi Luật số 51/2024/QH15.
Bảo đảm công việc khi nghỉ ốm
Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu người lao động bị ốm đau, tai nạn không phục hồi được sau 12 tháng điều trị đối với hợp đồng không xác định thời hạn, sau 06 tháng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ 12 đến 36 tháng, hoặc quá một nửa thời hạn hợp đồng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không thường xuyên hoặc hợp đồng lao động thường xuyên có thời hạn dưới 12 tháng. Khi người lao động hồi phục sức khỏe thì được xem xét giao kết hợp đồng mới.
Nguồn: Điều 368 (1) (b) của Bộ luật Lao động năm 2019 (Luật số 10/2012/QH13).
Quy định về Việc làm và bệnh tật
- Luật Lao động, 2012 / Labour Code, 2012
- Luật Bảo hiểm Y tế, 2008 / Law on Health Insurance, 2008