• Back to the Global website
WageIndicator Logo
Công việc tại Việt NamChevron
Chúng tôi làm gìChevron
Về chúng tôiChevron
Search
Liên hệ với chúng tô
arrow
Công việc tại Việt Nam
Explore this section to learn more.
Mức lương tối thiểu
Mức lương đủ sống
LươngArrow
Luật lao độngArrow
Thỏa ước lao động tập thểArrow
Kiểm tra mức lương
Khảo sát lương
Thu nhập của VIP
Làm việc và tiền lương
Thù lao và Thời gian làm việc
Nghỉ phép
Hợp đồng và Thải hồi
Trách nhiệm Gia đình
Làm việc và sinh con
Sức khỏe và An toàn lao động
Việc làm và Bệnh tật
Bảo hiểm xã hội
Đối xử bình đẳng nơi làm việc
Quyền về Công đoàn
Explore all topics
So sánh các hiệp định tập thể
Chúng tôi làm gì
Explore this section to learn more.
Dữ liệu và Dịch vụ
Dự án [ENG]
Sự kiện [ENG]
Ấn phẩm [ENG]
Tin tức và Câu chuyện [ENG]
Về chúng tôi
Explore this section to learn more.
Chúng tôi là aiArrow
Đối tác của chúng tôi [ENG]
Nơi chúng tôi hoạt động [ENG]
Chính sách và Kế hoạch [ENG]
Phòng Báo chí [ENG]
Liên hệ với chúng tôi [ENG]
Đồng hành cùng chúng tôi [ENG]
Thực tập [ENG]
Lịch sử hình thành
Người dùng dữ liệu
Scroll left
Scroll right
  1. Việt Nam
  2. Công việc tại Việt Nam
  3. Luật lao động
  4. Bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội

This page was last updated on: 2025-01-10

Quyền về hưu trí

Người lao động phải đảm bảo đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội để được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi 03 tháng, nữ đủ 55 tuổi 04 tháng. Tuổi nghỉ hưu sẽ tăng lần lượt là 03 tháng và 04 tháng đối với nam và nữ sau mỗi năm để đạt 62 tuổi đối với nam vào năm 2028 và 60 tuổi đối với nữ vào năm 2035.Từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là 60 tuổi 03 tháng đối với nam và 55 tuổi 04 tháng đối với nữ. Cứ sau mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với nam và 04 tháng đối với nữ.

Người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn đến 05 năm so với quy định nêu trên. Tương tự, tuổi nghỉ hưu của người lao động có tay nghề cao và người lao động trong một số trường hợp đặc biệt có thể tăng lên tối đa 05 năm so với tuổi nghỉ hưu thông thường.

Luật Bảo hiểm xã hội có quy định đối với lương hưu và trợ cấp hưu trí. Để được hưởng chế độ hưu trí, người lao động phải đủ 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ và có đủ ít nhất 20 năm đóng bảo hiểm xã hội. Nam 55 tuổi và nữ 50 tuổi có thể nghỉ hưu sớm nếu có đủ 15 năm làm việc trong điều kiện lao động độc hại, khó khăn hoặc trong các khu vực địa lý nhất định. Mức lương hưu hàng tháng tính bằng 45% mức thu nhập bình quân cho 15 năm đầu tiên đóng bảo hiểm. Sau đó cứ mỗi năm tham gia đóng bảo hiểm tăng thêm thì cộng 2% (tương ứng với nam và nữ). Mức lương hưu tối đa là 75% thu nhập bình quân người lao động tham gia bảo hiểm. Những người không đủ điều kiện cho hưởng chế độ hưu trí (có ít năm đóng bảo hiểm hơn) được trả trợ cấp một lần khi nghỉ hưu. Người lao động tham gia bảo hiểm, những người đã đóng bảo hiểm nhiều hơn số năm tương ứng với tỷ lệ lương hưu 75%, được quyền hưởng trợ cấp gộp một lần khi về hưu.

Một cải cách lớn đối với hệ thống an sinh xã hội đã được thực hiện thông qua việc ban hành Luật Bảo hiểm xã hội (Luật số 41/2024/QH15), có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025. Luật trước đó ban hành năm 2014 đã bị bãi bỏ.

Độ tuổi nghỉ hưu theo quy định (62 tuổi đối với nam, 60 tuổi đối với nữ, với lộ trình tăng dần) được quy định tại Bộ luật Lao động 2019 và vẫn được giữ nguyên. Tuy nhiên, chế độ trợ cấp xã hội không đóng góp (trợ cấp hàng tháng do nhà nước cấp cho người cao tuổi không có lương hưu) sẽ được hưởng sớm hơn. Theo chính sách cũ, người lao động từ 80 tuổi trở lên (hoặc từ 75 tuổi trở lên đối với hộ nghèo) mới được hưởng trợ cấp xã hội. Theo quy định mới của Luật 2024, độ tuổi đủ điều kiện hưởng trợ cấp xã hội giảm xuống còn 75 tuổi cho tất cả các đối tượng, và 70 tuổi đối với các trường hợp thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo.

Số năm đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu để đủ điều kiện hưởng lương hưu được giảm từ 20 năm xuống còn 15 năm. Theo luật năm 2014, người lao động cần đóng bảo hiểm xã hội ít nhất 20 năm mới được nghỉ hưu và nhận lương hưu hàng tháng. Từ tháng 7 năm 2025, người lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ 15 năm trở lên sẽ đủ điều kiện nhận lương hưu hàng tháng trọn đời khi đến tuổi nghỉ hưu.

Lao động nam có thời gian đóng bảo hiểm xã hội trên 35 năm và lao động nữ trên 30 năm sẽ được nhận thêm một khoản trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, bên cạnh lương hưu. Đối với mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội vượt quá các ngưỡng này, mức trợ cấp một lần tương đương với một nửa mức tiền lương bình quân dùng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.

Thêm vào đó, từ nay người lao động đạt đến tuổi nghỉ hưu là một lý do hợp lệ cho việc chấm dứt hợp đồng lao động đơn phương.

Nguồn: Các điều 35 và 168-169 Bộ luật Lao động 2019; các điều 21, 64-83 và 98-107 Luật Bảo hiểm xã hội (Luật số 41/2025/QH15).

Tử tuất trả cho người phụ thuộc / người còn sống

Luật Bảo hiểm xã hội quy định về chế độ tuất cho thân nhân khi người lao động qua đời, với điều kiện người đã mất có ít nhất 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, đang hưởng lương hưu tuổi già hoặc lương hưu do suy giảm khả năng lao động với mức suy giảm từ 61% trở lên (theo luật trước đây, mức này là 81% và nay đã giảm xuống còn 61%). Chế độ lương hưu thân nhân được chi trả cho các đối tượng phụ thuộc gồm: vợ hoặc chồng ở độ tuổi nghỉ hưu theo quy định hoặc sớm hơn nếu có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; con dưới 18 tuổi hoặc ở bất kỳ độ tuổi nào nếu bị khuyết tật với mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; cha, mẹ, cha mẹ vợ/chồng (hoặc người phụ thuộc khác vào thu nhập của người lao động đã mất) ở độ tuổi nghỉ hưu hoặc dưới tuổi nghỉ hưu nhưng có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên. Cha mẹ và vợ/chồng chỉ đủ điều kiện hưởng chế độ nếu không có thu nhập hoặc có thu nhập thấp hơn mức lương tối thiểu. Mức trợ cấp tuất cho thân nhân được chi trả bằng 50% đến 70% mức lương tối thiểu hàng tháng cho mỗi thân nhân đủ điều kiện (chỉ áp dụng cho tối đa 4 người phụ thuộc).

Trợ cấp tuất một lần sẽ được chi trả cho các thân nhân trong trường hợp người đã mất không đáp ứng đủ điều kiện hưởng trợ cấp tuất hàng tháng (ví dụ: thời gian đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ); hoặc đáp ứng điều kiện hưởng trợ cấp tuất hàng tháng nhưng không có thân nhân nào đủ điều kiện hưởng trợ cấp thân nhân; hoặc thân nhân đủ điều kiện hưởng trợ cấp hàng tháng nhưng lựa chọn nhận trợ cấp một lần.

Một cải cách lớn đối với hệ thống an sinh xã hội đã được thực hiện thông qua việc ban hành Luật Bảo hiểm xã hội (Luật số 41/2024/QH15), có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025. Luật trước đó ban hành năm 2014 đã bị bãi bỏ.

Ngoài ra, còn có chế độ trợ cấp mai táng và trợ cấp tử tuất dưới hình thức chi trả một lần.

Nguồn: Các điều 84-91 Luật Bảo hiểm xã hội (Luật số 41/2025/QH15).

Trợ cấp mất sức lao động

Luật Bảo hiểm xã hội quy định trợ cấp cho người tàn tật trong trường hợp xảy ra tai nạn/thương tích/bệnh tật không thuộc về nghề nghiệp dẫn đến tàn tật vĩnh viễn. Điều kiện để hưởng trợ cấp này là người lao động suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và có ít nhất 15-20 năm đóng bảo hiểm. Trợ cho người cấp tàn tật được tính tương tự trợ cấp người cao tuổi.

Nguồn: Điều 123 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014

Quy định về bảo hiểm xã hội

  • Luật Lao động, 2012 / Labour Code, 2012

Chủ đề liên quan

Trợ cấp thất nghiệp Hợp đồng và Thải hồi Việc làm và Bệnh tật Thỏa ước lao động tập thể
Related pages
Làm việc và tiền lươngThù lao và Thời gian làm việcNghỉ phépHợp đồng và Thải hồiYêu cầu về báo trước và Tiền thôi việcTrách nhiệm Gia đìnhLàm việc và sinh conKhông bị sa thảiNghỉ giữa buổi cho bà mẹ đi làmSức khỏe và An toàn lao độngViệc làm và Bệnh tậtQuyền lợi khi bị tai nạn lao động / bệnh nghề nghiệpBảo hiểm xã hộiTrợ cấp thất nghiệpĐối xử bình đẳng nơi làm việcQuấy rối tình dục nơi làm việcLao động Trẻ emLao động cưỡng bứcQuyền về Công đoànThông tin công đoàn
This page was last updated on: 2025-01-10

Quyền về hưu trí

Người lao động phải đảm bảo đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội để được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi 03 tháng, nữ đủ 55 tuổi 04 tháng. Tuổi nghỉ hưu sẽ tăng lần lượt là 03 tháng và 04 tháng đối với nam và nữ sau mỗi năm để đạt 62 tuổi đối với nam vào năm 2028 và 60 tuổi đối với nữ vào năm 2035.Từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là 60 tuổi 03 tháng đối với nam và 55 tuổi 04 tháng đối với nữ. Cứ sau mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với nam và 04 tháng đối với nữ.

Người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn đến 05 năm so với quy định nêu trên. Tương tự, tuổi nghỉ hưu của người lao động có tay nghề cao và người lao động trong một số trường hợp đặc biệt có thể tăng lên tối đa 05 năm so với tuổi nghỉ hưu thông thường.

Luật Bảo hiểm xã hội có quy định đối với lương hưu và trợ cấp hưu trí. Để được hưởng chế độ hưu trí, người lao động phải đủ 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ và có đủ ít nhất 20 năm đóng bảo hiểm xã hội. Nam 55 tuổi và nữ 50 tuổi có thể nghỉ hưu sớm nếu có đủ 15 năm làm việc trong điều kiện lao động độc hại, khó khăn hoặc trong các khu vực địa lý nhất định. Mức lương hưu hàng tháng tính bằng 45% mức thu nhập bình quân cho 15 năm đầu tiên đóng bảo hiểm. Sau đó cứ mỗi năm tham gia đóng bảo hiểm tăng thêm thì cộng 2% (tương ứng với nam và nữ). Mức lương hưu tối đa là 75% thu nhập bình quân người lao động tham gia bảo hiểm. Những người không đủ điều kiện cho hưởng chế độ hưu trí (có ít năm đóng bảo hiểm hơn) được trả trợ cấp một lần khi nghỉ hưu. Người lao động tham gia bảo hiểm, những người đã đóng bảo hiểm nhiều hơn số năm tương ứng với tỷ lệ lương hưu 75%, được quyền hưởng trợ cấp gộp một lần khi về hưu.

Một cải cách lớn đối với hệ thống an sinh xã hội đã được thực hiện thông qua việc ban hành Luật Bảo hiểm xã hội (Luật số 41/2024/QH15), có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025. Luật trước đó ban hành năm 2014 đã bị bãi bỏ.

Độ tuổi nghỉ hưu theo quy định (62 tuổi đối với nam, 60 tuổi đối với nữ, với lộ trình tăng dần) được quy định tại Bộ luật Lao động 2019 và vẫn được giữ nguyên. Tuy nhiên, chế độ trợ cấp xã hội không đóng góp (trợ cấp hàng tháng do nhà nước cấp cho người cao tuổi không có lương hưu) sẽ được hưởng sớm hơn. Theo chính sách cũ, người lao động từ 80 tuổi trở lên (hoặc từ 75 tuổi trở lên đối với hộ nghèo) mới được hưởng trợ cấp xã hội. Theo quy định mới của Luật 2024, độ tuổi đủ điều kiện hưởng trợ cấp xã hội giảm xuống còn 75 tuổi cho tất cả các đối tượng, và 70 tuổi đối với các trường hợp thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo.

Số năm đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu để đủ điều kiện hưởng lương hưu được giảm từ 20 năm xuống còn 15 năm. Theo luật năm 2014, người lao động cần đóng bảo hiểm xã hội ít nhất 20 năm mới được nghỉ hưu và nhận lương hưu hàng tháng. Từ tháng 7 năm 2025, người lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ 15 năm trở lên sẽ đủ điều kiện nhận lương hưu hàng tháng trọn đời khi đến tuổi nghỉ hưu.

Lao động nam có thời gian đóng bảo hiểm xã hội trên 35 năm và lao động nữ trên 30 năm sẽ được nhận thêm một khoản trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, bên cạnh lương hưu. Đối với mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội vượt quá các ngưỡng này, mức trợ cấp một lần tương đương với một nửa mức tiền lương bình quân dùng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.

Thêm vào đó, từ nay người lao động đạt đến tuổi nghỉ hưu là một lý do hợp lệ cho việc chấm dứt hợp đồng lao động đơn phương.

Nguồn: Các điều 35 và 168-169 Bộ luật Lao động 2019; các điều 21, 64-83 và 98-107 Luật Bảo hiểm xã hội (Luật số 41/2025/QH15).

Tử tuất trả cho người phụ thuộc / người còn sống

Luật Bảo hiểm xã hội quy định về chế độ tuất cho thân nhân khi người lao động qua đời, với điều kiện người đã mất có ít nhất 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, đang hưởng lương hưu tuổi già hoặc lương hưu do suy giảm khả năng lao động với mức suy giảm từ 61% trở lên (theo luật trước đây, mức này là 81% và nay đã giảm xuống còn 61%). Chế độ lương hưu thân nhân được chi trả cho các đối tượng phụ thuộc gồm: vợ hoặc chồng ở độ tuổi nghỉ hưu theo quy định hoặc sớm hơn nếu có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; con dưới 18 tuổi hoặc ở bất kỳ độ tuổi nào nếu bị khuyết tật với mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; cha, mẹ, cha mẹ vợ/chồng (hoặc người phụ thuộc khác vào thu nhập của người lao động đã mất) ở độ tuổi nghỉ hưu hoặc dưới tuổi nghỉ hưu nhưng có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên. Cha mẹ và vợ/chồng chỉ đủ điều kiện hưởng chế độ nếu không có thu nhập hoặc có thu nhập thấp hơn mức lương tối thiểu. Mức trợ cấp tuất cho thân nhân được chi trả bằng 50% đến 70% mức lương tối thiểu hàng tháng cho mỗi thân nhân đủ điều kiện (chỉ áp dụng cho tối đa 4 người phụ thuộc).

Trợ cấp tuất một lần sẽ được chi trả cho các thân nhân trong trường hợp người đã mất không đáp ứng đủ điều kiện hưởng trợ cấp tuất hàng tháng (ví dụ: thời gian đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ); hoặc đáp ứng điều kiện hưởng trợ cấp tuất hàng tháng nhưng không có thân nhân nào đủ điều kiện hưởng trợ cấp thân nhân; hoặc thân nhân đủ điều kiện hưởng trợ cấp hàng tháng nhưng lựa chọn nhận trợ cấp một lần.

Một cải cách lớn đối với hệ thống an sinh xã hội đã được thực hiện thông qua việc ban hành Luật Bảo hiểm xã hội (Luật số 41/2024/QH15), có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025. Luật trước đó ban hành năm 2014 đã bị bãi bỏ.

Ngoài ra, còn có chế độ trợ cấp mai táng và trợ cấp tử tuất dưới hình thức chi trả một lần.

Nguồn: Các điều 84-91 Luật Bảo hiểm xã hội (Luật số 41/2025/QH15).

Trợ cấp mất sức lao động

Luật Bảo hiểm xã hội quy định trợ cấp cho người tàn tật trong trường hợp xảy ra tai nạn/thương tích/bệnh tật không thuộc về nghề nghiệp dẫn đến tàn tật vĩnh viễn. Điều kiện để hưởng trợ cấp này là người lao động suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và có ít nhất 15-20 năm đóng bảo hiểm. Trợ cho người cấp tàn tật được tính tương tự trợ cấp người cao tuổi.

Nguồn: Điều 123 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014

Quy định về bảo hiểm xã hội

  • Luật Lao động, 2012 / Labour Code, 2012

Chủ đề liên quan

Trợ cấp thất nghiệp Hợp đồng và Thải hồi Việc làm và Bệnh tật Thỏa ước lao động tập thể
Related pages
Làm việc và tiền lươngThù lao và Thời gian làm việcNghỉ phépHợp đồng và Thải hồiYêu cầu về báo trước và Tiền thôi việcTrách nhiệm Gia đìnhLàm việc và sinh conKhông bị sa thảiNghỉ giữa buổi cho bà mẹ đi làmSức khỏe và An toàn lao độngViệc làm và Bệnh tậtQuyền lợi khi bị tai nạn lao động / bệnh nghề nghiệpBảo hiểm xã hộiTrợ cấp thất nghiệpĐối xử bình đẳng nơi làm việcQuấy rối tình dục nơi làm việcLao động Trẻ emLao động cưỡng bứcQuyền về Công đoànThông tin công đoàn
Cite this page: © WageIndicator 2026  –  Việt Nam  –  Bảo hiểm xã hội, Quyền về hưu trí, Trợ cấp mất sức lao động
FacebookLinkedin
Tìm hiểu thêm về WageIndicator
Liên hệ với đội ngũ WageIndicator và tìm hiểu thêm về công việc của chúng tôi.
Đọc thêm Go to the about us page
arrow
Liên hệ với chúng tôi Go to the contact form
arrow
WageIndicator Logo
WageIndicator Việt Nam
Dữ liệu hiệu quả.
WageIndicator Foundation là một tổ chức phi lợi nhuận, độc lập và hoạt động toàn cầu, chuyên thu thập, so sánh và cung cấp thông tin về Mức lương tối thiểu, Mức lương đủ sống, Biểu phí đủ sống và Thu nhập đủ sống, Tiền lương và tiền công, Luật lao động, Thỏa ước lao động tập thể, Công việc thời vụ và công việc trên nền tảng số trên phạm vi toàn thế giới. Quỹ được thành lập từ năm 2000 và hiện đã hiện diện tại 208 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Công việc & Dữ liệu
Mức lương tối thiểu
Mức lương đủ sống
Kiểm tra mức lương
Luật lao động
Thỏa ước lao động tập thể
Dữ liệu và Dịch vụ
Mới nhất
Dự án
Sự kiện
Các ấn phẩm
Tin tức
Về chúng tôi
Về chúng tôi
Hợp tác với chúng tôi
Chính sách và Kế hoạch
Phòng báo chí
FacebookInstagramLinkedinYoutube
Chính sách bảo mậtChính sách cookieĐiều khoản sử dụngTrợ năngĐược cung cấp bởi WageIndicator Foundation