Quyền về Công đoàn
Quyền tự do gia nhập công đoàn
Hiến pháp trao quyền thành lập hiệp hội và định nghĩa công đoàn là "tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".
Tổ chức công đoàn được thành lập để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động. Luật Lao động quy định người lao động làm việc trong doanh nghiệp có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn theo quy định của Luật Công đoàn. Người lao động có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động trong các tổ chức công đoàn, kể cả trong trường hợp không có quan hệ lao động. Người lao động nước ngoài có hợp đồng lao động từ 12 tháng trở lên cũng có thể tham gia và hoạt động trong công đoàn cơ sở. Luật pháp quy định các cấp công đoàn: công đoàn cấp cơ sở, được thành lập ở cấp độ doanh nghiệp và tổ chức công đoàn cấp trên trực tiếp của cấp cơ sở, giám sát các sinh hoạt/hoạt động của tổ chức công đoàn cấp cơ sở. Các tổ chức công đoàn cấp trên cơ sở có quyền và có trách nhiệm vận động người lao động gia nhập và thành lập công đoàn cơ sở và có quyền yêu cầu người sử dụng lao động và cơ quan quản lý nhà nước về lao động địa phương tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ việc thành lập công đoàn cơ sở.
Khi công đoàn cơ sở được thành lập theo đúng quy định của Luật Công đoàn thì người sử dụng lao động phải thừa nhận và tạo điều kiện thuận lợi để công đoàn cơ sở hoạt động. Công đoàn cơ sở có các quyền sau: đại diện cho lợi ích tập thể người lao động bằng việc đàm phán, ký kết và giám sát thực hiện thỏa ước lao động tập thể; tranh tụng tại tòa án khi có tranh chấp về thoả ước lao động tập thể; hợp tác với các doanh nghiệp trong việc xây dựng và giám sát việc thực hiện thang lương, bảng lương; hướng dẫn và tư vấn cho người lao động về quyền và nghĩa vụ của mình khi ký kết và thực hiện hợp đồng lao động với doanh nghiệp; đại diện cho người lao động trong việc thực hiện các hoạt động pháp lý tại tòa với sự ủy quyền của người lao động; tham gia giải quyết các tranh chấp lao động cùng với cơ quan có thẩm quyền; tổ chức và lãnh đạo đình công theo quy định của pháp luật.
Người sử dụng lao động bị cấm cản trở, gây khó khăn cho người lao động thành lập, tham gia và hoạt động công đoàn; ép buộc lao động thành lập, tham gia và hoạt động công đoàn; yêu cầu người lao động không tham gia hoặc rời khỏi tổ chức công đoàn; và phân biệt đối xử về tiền lương, thời gian làm việc và các quyền, nghĩa vụ khác nhằm cản trở việc thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động.
Năm 2024, Luật Công đoàn mới (Luật số 50/2024/QH15) đã được ban hành và có hiệu lực từ ngày 1/7/2025.
Lần đầu tiên, luật này ghi nhận rõ ràng quyền của người lao động được thành lập hoặc gia nhập không chỉ các công đoàn thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (TLĐLĐVN - VGCL), mà còn các tổ chức của người lao động khác tại cấp doanh nghiệp. Trước đây, chỉ các công đoàn trực thuộc TLĐLĐVN mới được công nhận. Bộ luật Lao động 2019 cho phép tổ chức của người lao động độc lập tại doanh nghiệp, nhưng việc thực thi còn chưa rõ ràng. Luật Công đoàn mới 2024 quy định tổ chức của người lao động trong doanh nghiệp có thể tự nguyện lựa chọn gia nhập TLĐLĐVN ở cấp quốc gia.
Luật năm 2024 cũng cho phép người lao động nước ngoài tại Việt Nam tham gia công đoàn Việt Nam. Theo luật năm 2012, chỉ công dân Việt Nam mới được gia nhập công đoàn, người lao động nước ngoài bị loại trừ.
Ngoài ra, luật 2024 còn mở rộng đối tượng được gia nhập công đoàn cho cả những người không có hợp đồng lao động, tức là lao động tự do, lao động trên các nền tảng hoặc người lao động tự doanh. Những đối tượng này giờ đây cũng có thể thành lập hoặc gia nhập các hiệp hội lao động. Dưới luật cũ năm 2012, chỉ những người có hợp đồng lao động mới được tham gia công đoàn.
Nguồn: Điều 10 & 25 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (số 18/2013/L-CTN); các điều 170-174 Bộ luật Lao động 2019; các điều 4, 5, 6, 10, 14, 15 & 24 Luật Công đoàn (Luật số 50/2024/QH15).
Quyền tự do thỏa ước tập thể
Thỏa ước lao động tập thể là văn bản thoả thuận giữa tập người thể lao động và người sử dụng lao động liên quan đến điều kiện làm việc và việc làm, thoả thuận đạt được giữa các bên thông qua thương lượng tập thể. Có hai cấp thỏa ước lao động tập thể cấp doanh nghiệp và thỏa ước lao động tập thể cấp ngành. Các quy định của thoả ước lao động tập thể không được trái với các quy định của pháp luật và phải có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật. Sau đây là các nội dung của một thoả ước lao động tập thể: tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp và nâng lương; thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi, thời giờ làm thêm, và thời gian nghỉ giữa ca; bảo đảm việc làm đối với người lao động; bảo đảm an toàn lao động và sức khỏe; việc thực hiện nội quy lao động; và các vấn đề khác đáng quan tâm khác.
Một khi thoả ước lao động tập thể được ký kết, người sử dụng lao động phải thông báo cho tất cả người lao động được biết về thỏa ước lao động tập thể và các quy định của nó. Thoả ước lao động tập thể phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về lao động trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ký. Thoả ước lao động tập thể cấp doanh nghiệp có thời hạn từ 01 năm đến 3 năm. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp lần đầu tiên ký kết thoả ước lao động tập thể, thì có thể ký kết với thời hạn dưới 01 năm.
Hội đồng Tiền lương quốc gia, theo Bộ luật lao động, là một cơ quan ba bên tư vấn cho Chính phủ và bao gồm đại diện của Bộ Lao động, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và các tổ chức của người sử dụng lao động ở cấp quốc gia với năm thành viên từ mỗi tổ chức. Hội đồng thực hiện chức năng tư vấn cho Chính phủ về điều chỉnh, công bố mức lương tối thiểu vùng.
Ủy ban Quốc gia về Quan hệ lao động được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ trong năm 2007, trong một cơ quan tư vấn báo cáo Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách, giải pháp để phát triển quan hệ lao động, và xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức liên quan trong việc phòng ngừa và giải quyết tranh chấp lao động và đình công.
Nguồn: Điều 63-89 & 92 Bộ luật Lao động, 2019; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (Số 68/2007//QĐ-TTg
Quyền đình công
Quyền đình công được công nhận theo Bộ luật Lao động năm 2019. Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện của tập thể lao động nhằm giải quyết tranh chấp lao động về lợi ích (tranh chấp lao động tập thể về các vấn đề vượt quá quy định của luật lao động hoặc thoả ước lao động tập thể đã đăng kí).
Cuộc đình công phải do ban chấp hành công đoàn hoặc tổ chức đại diện của người lao động (nếu đã được thành lập tại doanh nghiệp) đứng ra lãnh đạo và tổ chức. Ở nơi chưa có tổ chức công đoàn cơ sở thì đình công do tổ chức công đoàn cấp trên tổ chức và lãnh đạo theo yêu cầu của người lao động. Công đoàn có quyền lấy ý kiến tập thể lao động liên quan đến cuộc đình công; tổ chức và lãnh đạo đình công; đàm phán các vấn đề tranh chấp lao động; thu hồi quyết định tổ chức đình công; và yêu cầu Toà án tuyên bố cuộc đình công là hợp pháp.
Một cuộc đình công chỉ được tiến hành nếu có trên 50% người lao động đồng ý và quyết định này phải được lập thành văn bản. Thông báo đình công, bao gồm các thông tin về thời gian, phạm vi và yêu cầu của tập thể lao động, phải được gửi cho người sử dụng lao động và các cơ quan có thẩm quyền ít nhất 5 ngày làm việc trước khi đình công. Nếu đến thời điểm bắt đầu đình công mà người sử dụng lao động vẫn không đáp ứng các yêu cầu của người lao động, tổ chức đại diện sẽ đứng ra lãnh đạo cuộc đình công.
Người sử dụng lao động có quyền tiếp tục đàm phán về các vấn đề tranh chấp hoặc yêu cầu hòa giải từ cơ quan quản lý Nhà nước về lao động; chấp nhận toàn bộ hoặc một phần yêu cầu của tập thể người lao động nhưng phải thông báo quyết định bằng văn bản cho Ban chấp hành công đoàn; đóng cửa tạm thời nơi làm việc trong thời gian đình công do không đủ điều kiện để duy trì hoạt động bình thường hoặc để bảo vệ tài sản doanh nghiệp; và yêu cầu Toà án tuyên bố cuộc đình công là bất hợp pháp.
Bộ luật Lao động nghiêm cấm một số hành vi nhất định được thực hiện bởi người lao động/tổ chức công đoàn và người sử dụng lao động trong thời gian đình công. Người sử dụng lao động bị cấm cản trở người lao động việc thực hiện quyền đình công; chấm dứt hợp đồng lao động, xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động hoặc người lãnh đạo cuộc đình công, hoặc điều chuyển người lao động, người lãnh đạo đình công sang làm công việc khác hoặc đi làm việc ở nơi khác vì lý do chuẩn bị đình công hoặc tham gia đình công; trả thù, trù dập những người lao động tham gia đình công, người lãnh đạo đình công; và lợi dụng đình công để thực hiện hành vi trái pháp luật.
Người lao động/tổ chức công đoàn bị cấm hành vi sau đây trong thời gian đình công: kích động, lôi kéo, ép buộc người lao động đình công; cản trở người lao động không tham gia đình công đi làm việc; sử dụng bạo lực, huỷ hoại máy móc, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động; và vi phạm trật tự và an ninh công cộng.
Đình công trong các ngành công nghiệp đặc biệt của nhà nước mà cung cấp sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho nền kinh tế quốc dân, hoặc có thể đe dọa an ninh, quốc phòng, sức khoẻ và trật tự công cộng là trái pháp luật. Bao gồm các ngành công nghiệp: sản xuất điện; khai thác thăm dò dầu khí; sản xuất và cung cấp khí đốt; bảo đảm an ninh hàng không, an toàn hàng hải; cơ sở hạ tầng viễn thông; dịch vụ bưu chính cho cơ quan Nhà nước; cung cấp nước sạch, hệ thống thoát nước và vệ sinh môi trường ở các thành phố trực thuộc trung ương; và các tổ chức phục vụ trực tiếp cho an ninh, quốc phòng.
Luật Công đoàn 2024 nghiêm cấm mọi hình thức phân biệt đối xử hoặc trả thù người lao động vì tham gia hoạt động công đoàn hoặc đình công, và cũng nghiêm cấm người sử dụng lao động có các hành vi cản trở hoặc can thiệp vào hoạt động của công đoàn.
Nguồn: Các điều 198-211 Bộ luật Lao động (Luật số 45/2019/QH14); Nghị định số 41/2013/NĐ-CP; Điều 10 Luật Công đoàn (Luật số 50/2024/QH15).
Quy định về Công đoàn
- Luật Lao động, 2012 / Labour Code, 2012